Mút Xốp Dùng Làm Giá Thể Trồng Rau Thủy Canh
Trên thị trường có rất nhiều loại mút xốp, cách đây vài, ba năm, khi thủy canh mới du nhập vào nền nông nghiệp Việt Nam. Nói thật khi đó người dân mới tự phát nghiên cứu, tìm hiểu từ giống cho đến phụ kiện thi công nhà màng và cái gì tận dụng được thì tận dụng. Tại thời điểm đó nhu cầu chưa thật sự nhiều để các nhà cung cấp nghiên cứu và sản xuất sản phẩm thủy canh chính quy. Sở dĩ nói Thủy canh chính quy là vì nếu đầu tư nghiêm túc và đúng với bản chất Rau Sạch- Rau An Toàn thì các Farm bắt buộc tìm hiểu và chọn lọc các loại giống, dinh dưỡng và giá thể có nguồn gốc rõ ràng, có kiểm định chất lượng.


Hôm nay chúng tôi sẽ hướng dẫn mọi người nhìn nhận rõ hơn về mút thủy canh.  Thực tế trên thị trường có nhiều loại mút xốp, không phải mút nào cũng dùng cho thủy canh.
Mút xốp dùng để làm giá thể phải hội tụ đủ các yêu cầu là :
+ Giữ nước tốt
+ Bề mặt thoáng khí
+ Đảm bảo rể có thể đâm xuyên qua mút được .
+ Quan trọng nhất là mút không chứa các thành phần kim loại nặng độc hại như Chì (Pb), thủy ngân (Hg), Cadmi (Cd), Asen (As)...

Bảng kiểm định chất lượng mút trồng thủy canh của Công Ty TNHH Mousse Nhựa Vina


 Hiện nay chưa có một tiêu chuẩn chung nào quy định về tỷ lệ các thành phần này trong giá thể trồng thủy canh, nhưng dựa trên tiêu chuẩn đất sạch trong nông nghiệp QCVN 03-
MT:2015/BTNMT (QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ GIỚI HẠN CHO PHÉP CỦA MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG ĐẤT) ta có thể xác định như sau:

 1. Chì (Pb) có trong tự nhiên dưới dạng khoáng Sunfua Galen, khoáng Cabonate. Trong đất có một lượng nhỏ chì , sự hòa tan của chì trong đất tăng lên do quá trình axit hóa trong đất ( Đất chua). Chì có khả năng tích tụ trong cây trồng trong quá trình sinh trưởng, do đó người sử dụng cây lương thực bị nhiễm chỉ có thể bị ngộ độc chì. Chì cũng biết đến là tác nhân gây ung thư phổi, dạ dày và u thần kinh đệm. Nhiễm độc chì có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, gây sẩy thay và làm suy thoái nòi giống  Giới hạn tối đa hàm lượng chi cho phép trên 1kg đất khô là 70mg.
2. Thủy Ngân ( Hg) là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Hg (từ tiếng Hy Lạp 
hydrargyrum, tức là thủy ngân (hay nước bạc)) và số nguyên tử 80. Là một kim loại nặng có ánh bạc, thủy ngân là một nguyên tố kim loại được biết có dạng lỏng ở nhiệt độ thường. Thủy ngân được sử dụng trong các nhiệt kếáp kế và các thiết bị khoa học khác. Thủy ngân thu được chủ yếu bằng phương pháp khử khoáng chất thần sa.
Thủy ngân cần được tiếp xúc một cách cực kỳ cẩn thận. Các đồ chứa thủy ngân phải đậy nắp chặt chẽ để tránh rò rỉ và bay hơi. Việc đốt nóng thủy ngân hay các hợp chất của nó phải tiến hành trong điều kiện thông gió tốt và người thực hiện phải đội mũ có bộ lọc khí. Ngoài ra, một số ôxít có thể bị phân tích thành thủy ngân, nó có thể bay hơi ngay lập tức mà không để lại dấu vết.
3. Cadimi (Cd) trong vỏ trái đất Cadimi thường tồn tại dưới dạng khoáng vật như Grinolit (CdS). Cadimi dạng nguyên chất có màu trắng bạc nhưng trong không khí ẩm bị bao phủ một lớp màng oxit nên mất ánh kim, Cadimi mềm, dễ nóng chảy có thể dát mỏng, kéo sợi, khi nóng chảy có màu sẫm.
 Cadimi được biết gây tổn hại cho thận và xương ở liều lượng cao. Một nghiên cứu trên 1021 người ở Thụy Điển cho thấy nhiễm độc kim loại này làm gia tăng khả năng bị gãy xương, nếu bị nhiễm liều lương cao có thể gây mất xương và xương dễ giòn và gãy. 
Cadimi xâm nhập vào cơ thể con người qua thức ăn từ thực vật, được trồng trên đất nhiễm Cadimi hoặc tưới nước chứa nhiều Cadimi, hít phải bụi Cadimi có thể gây ung thư phổi. Do đó giới hạn tối đa hàm lượng Cadimi cho phép trong 1kg đất khô là 1.5mg một con số rất ít cho thấy mức độ độc hại của kim loại này với sức khỏe con người.
 4. Asen (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp 
arsenic), còn được viết là a-senarsen, là một nguyên tố hóa học có ký hiệu As và số nguyên tử 33. Asen lần đầu tiên được Albertus Magnus (Đức) viết về nó vào năm 1250. Khối lượng nguyên tử của nó bằng 74,92. Asen là một á kim gây ngộ độc và có nhiều dạng thù hình: màu vàng (phân tử phi kim) và một vài dạng màu đen và xám (á kim) chỉ là số ít mà người ta có thể nhìn thấy. Ba dạng có tính kim loại của asen với cấu trúc tinh thể khác nhau cũng được tìm thấy trong tự nhiên (các khoáng vật asen sensu stricto
 và hiếm hơn là asenolamprit cùng parasenolamprit), nhưng nói chung nó hay tồn tại dưới dạng các hợp chất asenua và asenat. Vài trăm loại khoáng vật như thế đã được biết tới. Asen và các hợp chất của nó được sử dụng như là thuốc trừ dịch hạithuốc trừ cỏthuốc trừ sâu và trong một loạt các hợp kim.
Asen và nhiều hợp chất của nó là những chất độc cực kỳ độc. Asen nguyên tố và các hợp chất của asen được phân loại là "độc" và "nguy hiểm cho môi trường" tại Liên minh châu Âu theo chỉ dẫn 67/548/EEC.
IARC công nhận asen nguyên tố và các hợp chất của asen như là các chất gây ung thư nhóm 1, còn EU liệt kê triôxít asenpentôxít asen và các muối asenat như là các chất gây ung thư loại 1. 
Do đó giới hạn tối đa hàm lượng Asen cho phép trong 1kg đất khô là 15mg.


Nguồn: Moussenhuavina và một số tài liệu sưu tầm.